JAPAN: Ý NGHĨA CÁC LOẠI TIỀN

2097

Yênđơn vị tiền tệ của Nhật Bản (tiếng Nhật: viết là 円-“viên” (えん, Rōmaji:en); tiếng Anh viết là Yen), có ký hiệu là ¥, và có mã là JPY trong bảng tiêu chuẩn ISO 4217. Yên trở thành đơn vị tiền tệ của Nhật Bản từ ngày 27/6/1871.

Hiện tại yên gồm cả hình thức tiền kim loại (6 loại) lẫn tiền giấy (4 loại). Các loại tiền kim loại gồm đồng 1 yên, đồng 5 yên, đồng 10 yên, đồng 50 yên, đồng 100 yên và đồng 500 yên. Các loại tiền giấy gồm tờ 1000 yên, tờ 2000 yên, tờ 5000 yên và tờ 10.000 yên. Yên do Ngân hàng Nhật Bản phát hành. 1 yên ≈ 207 VND (06-08-2014).

Tiền xu được đưa vào sử dụng năm 1870. Có các đồng bằng bạc 5, 10, 20 và 50 sen và 1 yen, và đồng bằng vàng 2, 5, 10 và 20 yên. Đồng vàng 1 yên được đưa vào sử dụng năm 1871, theo sau là đồng bằng dồng 1 rin, ½, 1 và 2 sen năm 1873.

Early 1 yen silver coin, 26.96 grams of.900 pure silver, Japan, minted in 1901 (Year 34 of the Meiji period).

Japanese 10 yen coin (obverse) showing Phoenix Hall of Byōdō-in

Đồng Cupronickel 5 sen được đưa vào sử dụng năm 1889. Năm 1897, đồng bằng bạc 1 yên bị hủy bỏ và các kích thước của đồng bằng vàng giảm xuống 50%, với các xu 5, 10 và 20 yên được ban hành. Năm 1920, xu cupro-nickel 10 sen được đưa vào sử dụng.

Việc sản xuất tiền xu bằng bạc bị dừng năm 1938, sau đó nhiều loại kim loại phổ biến được dùng để sản xuất các xu 1, 5 và 10 sen trong thế chiến thứ 2. Các đồng sét 5 và 10 được sản xuất năm 1945 nhưng không được đưa vào lưu hành.

Sau chiến tranh, đồng thau 50 sen, 1 và 5 yên được đưa vào sử dụng trong các năm 1946-1948. Năm 1949, đồng 5 yên như hiện nay được đưa vào sử dụng theo sau là đồng bằng đồng 10 yên (loại vẫn còn đang lưu hành) năm 1951.

Các tiền xu có mệnh giá nhỏ hơn 1 yên không còn giá trị từ 31 tháng 12 năm 1953, kể từ khi Small Currency Disposition and Fractional Rounding in Payments Act (小額通貨の整理及び支払金の端数計算に関する法律Shōgaku tsūka no seiri oyobi shiharaikin no hasūkeisan ni kan suru hōritsu?) có hiệu lực.

Năm 1955 loại tiền nhôm 1 yên như hiện nay được đưa vào sử dụng cùng với đồng nickel 50 yên không lỗ. Năm 1957, đồng bạc 100 yên được đưa vào sử dụng. Các loại đồng xu này được thay thế bằng tiền hiện tại năm 1967, loại cupro-nickel, cùng với đồng 50 yên có lỗ. Năm 1982, đồng 500 yên đầu tiên được đưa vào sử dụng.

Ý NGHĨA CÁC LOẠI TIỀN TẠI NHẬT (日本円)

Đơn vị tiền tệ của Nhật Bản hiện tại là Yên, được chính thức sử dụng từ năm 1871.

Hiện tại người Nhật sử dụng 2 loại tiền giao dịch trên thị trường đó là tiền xu và tiền giấy:
Tiền xu có tất cả 6 mệnh giá gồm đồng 1 yên, 5 yên, 10 yên, 50 yên, 100 yên và 500 yên được làm bằng các chất liệu kim loại khác nhau.

Tiền giấy bao gồm 1000, 2000, 5000, 10000 yên.

Trên những đồng tiền xu và tiền giấy đều có hình ảnh tượng trưng khác nhau.

TIỀN XU

1 Yên được làm từ nhôm nên rất nhẹ

5 Yên được làm từ đồng vàng (đồng thau), có kích thước to hơn và cũng nặng hơn đồng 1 Yên.
Theo quan niệm của người Nhật thì lương tháng đầu tiên nếu bỏ đồng 5 Yên vào trong ví sẽ không phải suy nghĩ về chuyện tiền bạc vì đồng 5 Yên đọc theo tiếng Nhật là “Gô en”, gô en thì trùng âm với một từ Hán tự khác có ý nghĩa là “kết duyên” nên nó được xem là đồng xu may mắn.

10 Yên Đồng xu này được làm từ đồng xanh (đồng đỏ).

50 Yên được làm bằng đồng trắng, không bị hoen rỉ, có thể sử dụng thời gian dài

100 Yên cũng được làm từ đồng trắng, không bị hoen rỉ.

500 Yên
Đây là đồng xu mệnh giá cao nhất và to nhất được làm từ chất liệu niken
Tiền xu được sử dụng khá phổ biến và không thể thiếu trong đời sống của người Nhật. Hầu hết được sử dụng mua hàng ở các máy bán hàng tự động hoặc mua vé tàu điện

TIỀN GIẤY

1000 Yên (sen)

Đây là loại tiền giấy có mệnh giá nhỏ nhất. Mặt trước là chân dung nhà vi trùng học Noguchi Hideyo, người đã cống hiến cả cuộc đời sự nghiệp nghiên cứu bệnh sốt vàng da. Mặt sau là hình ảnh đỉnh núi Phú sĩ( biểu tượng của Nhật Bản) và hoa sakura

Người được in hình trên tờ tiền 1000 yên là ông Natsumei Shoseki, một nhà tiểu thuyết, bình luận gia và là nhà nghiên cứu văn học Anh. Tác phẩm tiêu biểu của ông là quyển tiểu thuyết dài tập được mang tên Wagahai wa neko de aru (Tôi là con mèo) phát hành năm 1905.

Tờ 1000 Yên được sử dụng phổ biến nhất ở Nhật cho đến nay. Mặt trước tờ tiền có hình Noguchi Hideyo, ông là một nhà khoa học người Nhật đã phát minh ra thứ vắc-xin quan trọng giúp phòng ngừa một loại vi-rút nhiệt đới. Mặt sau của tờ tiền là hình ảnh núi Phú Sĩ.

2000 Yên

Tờ 2000 yên rất ít được sử dụng tại Nhật, và mặc nhiên các máy ATM cũng không đọc được mệnh giá tiền này.
Tuy vậy tờ 2000 Yên này được thiết kế rất đẹp, Mặt trước: không được trang trí bằng chân dung của nhân vật mà được thiết kế với họa tiết hình ảnh chiếc cổng Shureimon của thành cổ Shuri thuộc Vương quốc Lưu Cầu ngày xưa trên mặt trước.
Công trình lịch sử của tỉnh Okinawa này được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2000. Mặt sau là một bài văn và 1 bức chân dung của tác giả Murasaki Shikibu, với tác phẩm Hoàng tử Genji.

 

5000 Yên

Mặt trước của nó là chân dung của nữ nhà văn và tiểu thuyết gia nổi tiếng thời Minh Trị đó là Higuchi Ichiyo.
Mặt sau là cánh đồng Kakitsubbata Flowers

Nhân vật in dấu trên tờ 5000 Yên được xem là đặc biệt nhất vì bà không phải là một chính trị gia hay yếu nhân quyền lực nào. Bà là Higuchi Ichiyo – một nhà văn nghèo khó được sinh ra trong một gia đình trung lưu nhỏ, phải bỏ học giữa chừng, làm nhiều công việc không tên cho gia đình và chỉ xuất bản được 21 tác phẩm trước khi qua đời vì bệnh lao ở tuổi 24 vào năm 1896. Bà có mặt trên tờ tiền 5000 Yên vào năm 2004 vì những đóng góp của bà cho nền văn học Nhật Bản cũng như đã tạo cảm hứng cho hàng triệu phụ nữ Nhật khác phấn đấu quên mình.

Nhân vật được in hình trên tờ 5000 yên ấn bản năm 1984 là ông Inazo Nitobe, một nhà nông nghiệp học, đồng thời cũng một nhà giáo dục và nhà triết học lý luận. Ông là giáo sư danh dự của đại học Takushoku và là tác giả của nhiều quyển sách nổi tiếng trong đó phải kể đến cuốn “Võ sĩ đạo” ( “武士道” ) được nhiều người Nhật xem như kim chỉ nam về đạo đức chuẩn mực trong đối nhân xử thế.

10.000 Yên (man)

Đây là loại tiền giấy có mệnh giá lớn nhất trong hệ thống tiền tệ của Nhật Bản.
Các tu nghiệp sinh và du học sinh quen gọi 10000 yên là “Lá”.
Không rõ lý do vì sao gọi 10000 yên là “Lá”, và cách gọi này xuất phát từ nhóm tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật làm việc sau đó lan truyền rộng rãi cho đến bây giờ.

Mặt trước là chân dung nhà tư tưởng đồng thời là người sáng lập trường đại học Keio, đó là Yukichi Fukuzawa( cuối thời Edo đầu thời Meji 1835-1901), mặt sau là hình chim phượng hoàng ở đền thần Byodoin.

Trước đây tờ 10.000 yên in hình thái tử Shotoku (574-622), một nhà chính trị, nhà cải cách, nhân vật Phật giáo lừng danh trong lịch sử Nhật Bản.

Tờ 10,000 Yên – tờ tiền có mệnh giá cao nhất, tương đương khoảng 2,000,000 VND. Người được in trên mặt trước của tờ bạc đắt giá này là Fukuzawa Yukichi, một nhà triết học Nhật Bản nổi tiếng trong khi mặt kia lại là một bức vẽ bên trong chùa Byoudouin. Ông xuất thân là một võ sĩ đạo, là một trong 6 nhà giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến nền giáo dục đất nước vào thời đại Minh Trị, và ông cũng là người sáng lập ra đại học Keio Gijuku. Ông sang du học tại Âu Mỹ, tiếp thu những tinh hoa của trời Tây và mang về truyền bá cho đất nước Nhật Bản, góp phần tạo ra những ảnh hưởng to lớn cho Minh Trị Duy Tân. Ngoài ra ông cũng chính là nhân vật đầu tiên phổ biến hệ thống bảo hiểm cận đại cho Nhật Bản.

Tham khảo:

http://newsky.edu.vn/y-nghia-cua-to-1000-yen-5000-yen-va-10000-yen-nhat-ban/

Sự tích đồng 5 Yên Nhật may mắn